Hệ thống tượng đá ở Ngải Sơn lăng - Giá trị lịch sử và nghệ thuật đặc sắc
Ngải Sơn lăng hay An Lăng là lăng của vua Trần Hiến Tông, vị vua thứ 6 của nhà Trần. Vua Trần Hiến Tông tên húy là Trần Vượng, con thứ của vua Trần Minh Tông. Ông sinh ngày 15 tháng 2 năm Kỷ Mùi (1319), năm 10 tuổi được vua cha Trần Minh Tông truyền ngôi, ở ngôi 13 năm, mất ngày 11 tháng 6 năm Tân Tỵ (1341) thọ 23 tuổi.

Vua lên ngôi khi còn trẻ tuổi lại mất sớm nên việc điều khiển triều chính, dẹp loạn và giữ yên bờ cõi đều do Thái Thượng hoàng Trần Minh Tông đảm nhiệm. Ông được sử sách ghi nhận là người có “Tư chất tinh anh, sáng suốt, vận nước thái bình, nhưng ở ngôi không được lâu, chưa thấy thi thố việc gì”. Ngày 16 tháng 8 năm 1344 được an táng vào Ngải Sơn lăng.
Về vị trí xây dựng lăng của vua Trần Hiến Tông có nhiều thông tin khác nhau. Sách Đại Việt Sử ký toàn thư cho rằng, vua Trần Hiến Tông được táng ở An Lăng phủ Kiến Xương (Thái Bình - nay là tỉnh Hưng Yên), xong một số sách khác lại cho rằng ông được táng tại An Sinh. Qua các di tích, di vật còn lại tại Ngải Sơn lăng, các nhà khảo cổ học đã chứng minh, Ngải Sơn lăng là một khu lăng tẩm có quy mô rất lớn và được xây dựng ở An Sinh ngay sau khi vua Trần Hiến Tông mất (1341).
Theo mô tả của Trần Triều thánh tổ các xứ địa đồ thì lăng có quy mô lớn, các dấu vết còn lại gồm: “Nền trong dài hai trượng, chín thước (9,57m); rộng 8 thước (2,64m); cao 1 trượng (3,30m), tường vây quanh bằng gạch, mỗi mặt dài 4 trượng 5 thước (14,85m), dày 3 thước (1m)”.

Năm 1962, Ngải Sơn lăng cùng với 13 điểm di tích nhà Trần đã được xếp hạng di tích lịch sử Quốc gia trong đợt xếp hạng đầu tiên và đến năm 2013 đã được xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt.
Năm 2002, Công ty Than Mạo Khê đã phát tâm công đức, tu bổ, tôn tạo lại khu lăng mộ vua Trần Hiến Tông như hiện nay, hệ thống tượng quan hầu, thú đá, bia đá, các di vật cũng đã được sắp xếp trưng bày trong khuôn viên của lăng để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh của nhân dân, du khách xa gần.

Trong số các tượng đá tại lăng vua Trần Hiến Tông, có 2 tượng quan hầu được tạc trong thế đứng chầu, cao hơn 1m, trang phục khăn đóng, áo thụng, hai tay nâng hộp tráp nhỏ. Các tượng con thú bằng đá có tượng ngựa, dê, hổ, chó, kích cỡ tương đương các con vật trưởng thành. Đáng chú ý, ngoài tượng hổ hai chân trước nhổm, đầu ngểnh như trong tư thế rình mồi còn các con vật còn lại đều được tạc trong tư thế nằm nghỉ hay ngủ, nét mặt hiền từ. Các con vật được tả có đủ mắt, mũi, tai, sừng nhưng không có chi tiết cầu kỳ về đường nét như lông mao vốn mang phong cách đặc trưng trong nghệ thuật điêu khắc thời Trần, do đó toát lên vẻ khoẻ khoắn.

Ngoài các tượng quan hầu, thú, Ngải Sơn lăng còn có 2 rùa đá đế bia, 1 bia đá và một chân đế cắm bia đá thời Trần. Bộ tượng này vốn được đặc dọc hai bên trục Thần Đạo của lăng theo từng cặp đối xứng nhau, tượng quan hầu ở tư thế đứng chầu, tượng các loại đều được tạc ở dạng phủ phục. Bộ tượng đá ở Ngải Sơn lăng không chỉ được đánh giá là một bộ sưu tập quý của nghệ thuật điêu khắc thời Trần mà điều quan trọng hơn nữa là qua bộ tượng này chúng ta biết được trong cấu trúc trục Thần Đạo lăng tẩm thời Trần hai bên có tượng quan hầu và tượng thú đứng chầu.

Từ đặc trưng nghệ thuật tạo hình trên các di vật, đối chiếu với các tài liệu lịch sử, các nhà khoa học xác định các tượng quan hầu, thú, bia đá trên có thể được chế tác vào những năm 1344-1381 là thời điểm vua Trần Hiến Tông được an táng vào An Lăng (Thái Bình - nay là tỉnh Hưng Yên) hoặc khi di chuyển ra An Sinh (tỉnh Quảng Ninh). Trải qua thăng trầm của thời gian nên một số bia đá, thú đá, tượng quan hầu không còn nguyên vẹn. Tuy nhiên trong quá trình tôn tạo lăng, các di vật đã được phục hồi dù tính nguyên gốc không còn nhưng cũng đủ để du khách tham quan thấy được diện mạo của tượng./.
Lê Trang (TTBTDS Yên Tử)
