Di tích Quốc gia đặc biệt Bạch Đằng - Di sản trường tồn trong ký ức và đời sống cộng đồng
Trong dòng chảy văn hóa tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam, tục thờ Đức Thánh Trần (Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn) giữ một vị trí đặc biệt trong tâm thức cộng đồng.Từ một nhân vật lịch sử gắn liền với những chiến công hiển hách trên dòng sông Bạch Đằng, Ngài đã bước vào đời sống tâm linh trở thành một vị “Thánh” linh ứng hàng đầu, là biểu hiện cao nhất của lòng tri ân, tinh thần tự cường và tự hào dân tộc.

Nét đặc sắc của tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Bạch Đằng - Quảng Ninh chính là tính liên hoàn của không gian di tích. Ở đây, thực hành tín ngưỡng không đứng độc lập mà hóa thân vào cảnh quan di tích, tạo nên sự hòa quyện chặt chẽ giữa di sản vật thể và phi vật thể.
Tọa lạc bên dòng sông lịch sử, đền Trần Hưng Đạo và miếu Vua Bà là hai di tích tiêu biểu, giữ vị trí trung tâm trong cụm di tích Bạch Đằng. Xưa kia, đền Trần Hưng Đạo và miếu Vua Bà vốn là một doi đất nhô lên giữa sông Bạch Đằng, được gọi là “gò Gàn Xương” nghĩa là “sóng xô xương thành gò". Sau thời Nguyễn, quá trình quai đê, lấn sông làm khu vực này trở thành đất liền như hiện nay. Đền Trần Hưng Đạo là nơi tưởng niệm, tôn thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn – vị danh tướng kiệt xuất gắn liền với chiến thắng Bạch Đằng năm 1288. Trong khi đó, miếu Vua Bà gắn với truyền thuyết dân gian về người phụ nữ bán nước bên bờ sông, người được cho là đã cung cấp cho Trần Hưng Đạo những thông tin quan trọng về quy luật thủy triều và địa thế lòng sông, góp phần giúp quân dân nhà Trần chủ động bố trí trận địa.
Sự hiện diện song hành của đền Trần Hưng Đạo và miếu Vua Bà thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa tài thao lược của vị tướng tài với tri thức, kinh nghiệm và sự đóng góp của cộng đồng dân cư địa phương. Qua đó, di tích không chỉ tái hiện một dấu mốc quan trọng trong lịch sử dân tộc mà còn phản ánh cách cộng đồng lưu giữ, trao truyền và bồi đắp ký ức lịch sử thông qua các giá trị văn hóa, tín ngưỡng và truyền thuyết dân gian.
Tiếp nối không gian ấy là đình Trung Bản (phường Liên Hòa), ngôi đình cổ kính lưu truyền ký ức về khoảnh khắc Hưng Đạo Đại Vương dừng chân, chống kiếm xuống đất và tự tay búi lại tóc sau trận đánh lớn. Hiện nay ngôi đình còn lưu giữ bức tượng Đức Thánh Trần bằng gỗ sơn son thiếp vàng có niên đại từ đầu thời Nguyễn mang giá trị nghệ thuật điêu khắc cao, thể hiện hình tượng một vị chủ tướng vừa uy nghiêm, vừa thoát tục.

Đến với đền Trung Cốc (phường Phong Cốc), ngôi đền nằm trên gò đất cao, tương truyền: “Năm 1288, khi đi thị sát địa hình, chuẩn bị xây dựng trận địa cọc ở cửa Sông Rút và Sông Kênh, thuyền chở Trần Quốc Tuấn và Phạm Ngũ Lão đã bị mắc cạn ở gò đất khu Đồng Cốc, gần vị trí bãi cọc Đồng Vạn Muối, bãi cọc Đồng Má Ngựa, phải huy động dân binh, thuyền chài tới kéo thuyền ra khỏi chỗ mắc cạn”. Sau chiến thắng Bạch Đằng, nhân dân đã lập đền thờ Trần Hưng Đạo và Phạm Ngũ Lão tại khu vực này. Ngôi đền như một cột mốc đánh dấu sự gắn kết giữa vị tướng chỉ huy và nhân dân địa phương. Đặc biệt tại đình Yên Giang (phường Quảng Yên), cộng đồng cư dân tôn phụng Hưng Đạo Đại Vương làm vị Thành hoàng làng. Từ một vị tướng của cả dân tộc, Ngài trở thành người bảo vệ gần gũi, chở che cho từng nếp nhà, từng chuyến ra khơi của người dân vùng sông nước Bạch Đằng.
Theo thông lệ truyền thống “Tháng tám giỗ Cha”, cứ mỗi dịp thu sang người dân vùng Quảng Yên xưa (nay là các phường Quảng Yên, Phong Cốc, Liên Hòa) lại nô nức hướng về những hoạt động của Lễ giỗ Đức Thánh Trần. Chuỗi nghi lễ sẽ được diễn ra trang trọng từ ngày 18 đến 21 tháng 8 âm lịch hàng năm tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Bạch Đằng, thành phố Quảng Ninh.
![]() | ![]() |
Các hoạt động nghi lễ của Lễ giỗ Đức Thánh Trần
Điểm đặc sắc của Lễ giỗ Đức Thánh Trần tại khu di tích Bạch Đằng chính là tính kết nối di tích trong một tổng thể nghi lễ thống nhất. Các đội tế nam và tế nữ luân phiên thực hành các nghi thức Tế Yết, Tế Chính, Tế Giã từ đình Trung Bản, đền Trung Cốc đến đền Trần Hưng Đạo. Không chỉ có phần lễ nghi chính thống, sự tham gia chủ động của các dòng họ, khu phố thông qua các hoạt động dâng lễ, cúng khao, tổ chức văn nghệ dân gian đã khẳng định mạnh mẽ: chủ thể văn hóa chính là cộng đồng cư dân bản địa. Cốt lõi của Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần không dừng lại ở việc cầu an, giải trừ tà ma theo quan niệm dân gian, mà sâu xa hơn là đạo lý "Uống nước nhớ nguồn". Việc phụng thờ một vị tướng đã trở thành "Thánh" giúp nuôi dưỡng lòng tự tôn dân tộc, vun đắp tình yêu quê hương đất nước qua nhiều thế hệ. Tín ngưỡng ấy chính là "linh hồn" thổi sức sống vào những bãi cọc, những ngôi đền, biến di sản thành điểm tựa tinh thần vững chắc cho người dân nơi đây.
Việc bảo tồn và phát huy giá trị Lễ giỗ Đức thánh Trần thông qua sự phối hợp giữa cơ quan quản lý di sản, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư chính là minh chứng thể hiện sự tri ân sâu sắc của thế hệ hôm nay đối với vị anh hùng dân tộc. Đây không chỉ là dịp kết nối cộng đồng, tôn vinh và lan tỏa các giá trị văn hóa phi vật thể mà còn là cách dựa vào cộng đồng, gắn với cộng đồng để bảo tồn di sản. Tìm về Bạch Đằng những ngày tháng 8 âm lịch, thắp nén hương thành kính trước đền Trần Hưng Đạo, hòa mình vào không gian di sản bên dòng sông lịch sử để cảm nhận trọn vẹn hào khí Đông A vẫn đang chảy mãi cùng thời gian.
Đồng Thị Nga



