Hành trình từ bậc quân vương đến Phật hoàng của vua Trần Nhân Tông
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã ghi nhận nhiều bậc minh quân có công lao to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Trong đó, Trần Nhân Tông là một vị vua đặc biệt. Ngài không chỉ là vị vua anh minh lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh bại quân Nguyên - Mông xâm lược, mà còn là vị hoàng đế đầu tiên trong lịch sử nước ta từ bỏ ngai vàng để xuất gia tu hành, sáng lập Thiền phái Trúc Lâm - một dòng thiền mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam.
Trần Nhân Tông, tên húy là Trần Khâm, sinh năm 1258, là con trưởng của vua Trần Thánh Tông. Năm 1278, Ngài lên ngôi Hoàng đế khi mới 20 tuổi. Trong thời gian trị vì, cùng với Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và các tướng lĩnh kiệt xuất như Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo, vua Trần Nhân Tông đã lãnh đạo quân dân Đại Việt làm nên những chiến thắng vang dội trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông các năm 1285 và 1288. Những chiến thắng ấy không chỉ bảo vệ nền độc lập dân tộc mà còn trở thành biểu tượng của ý chí quật cường và hào khí Đông A trong lịch sử Việt Nam.

Sau khi đất nước bước vào thời kỳ hòa bình, năm 1293, Trần Nhân Tông truyền ngôi cho Thái tử Trần Thuyên (vua Trần Anh Tông), lui về làm Thái thượng hoàng. Sau hơn một năm truyền ngôi cho con, tháng 7 năm 1294, Thượng hoàng Trần Nhân Tông xuất gia tại hành cung Vũ Lâm (nay thuộc tỉnh Ninh Bình). Đến năm 1299, Ngài rời hành cung Vũ Lâm lên núi Yên Tử tu hành, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà và xưng Trúc Lâm Đại sĩ. Từ đây, Trần Nhân Tông dành trọn tâm huyết cho việc hoằng dương Phật pháp, thống nhất các dòng thiền đương thời và sáng lập Thiền phái Trúc Lâm - dòng thiền đầu tiên do người Việt sáng lập, mang tư tưởng nhập thế, gắn việc tu hành với phụng sự đất nước và Nhân dân.

Trong thời gian tu hành khổ hạnh, Ngài xuống núi đi khắp xóm làng, dạy dân chúng phá bỏ dâm từ và thực hành thập thiện, ban thuốc chữa bệnh cho dân nghèo. Đến tháng 5 năm 1307, Trúc Lâm Đại sĩ lên tu tại một am trên đỉnh Ngọa Vân. Ngày 01 tháng 11 năm 1308, Ngài an nhiên nhập Niết bàn tại Am Ngọa Vân. Chính vì vậy, Ngọa Vân được coi là Thánh địa của Phật giáo Trúc Lâm, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống di tích gắn với cuộc đời và sự nghiệp của Phật hoàng.

Ngày nay, Am - chùa Ngọa Vân cùng với chùa Quỳnh Lâm, chùa Hồ Thiên và hệ thống lăng tẩm, đền miếu của các vua Trần đã tạo nên Khu di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt nhà Trần - quần thể di tích có giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa và tâm linh. Đây không chỉ là nơi lưu giữ dấu ấn của một triều đại hưng thịnh mà còn phản ánh tư tưởng nhân văn sâu sắc của Phật hoàng Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm, những giá trị vẫn được gìn giữ và lan tỏa qua nhiều thế kỷ.
Hơn bảy trăm năm đã trôi qua, hình ảnh vị vua anh minh sẵn sàng gác lại vinh hoa, quyền lực để lựa chọn con đường tu hành vì sự an lạc của muôn dân vẫn luôn là biểu tượng đẹp trong lịch sử dân tộc. Cuộc đời và sự nghiệp của Phật hoàng Trần Nhân Tông không chỉ để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử Việt Nam mà còn góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa, tư tưởng và tinh thần của dân tộc, trở thành niềm tự hào của các thế hệ hôm nay và mai sau./.
Lê Trang (TTBTDS Yên Tử)

