Danh sách tin tức
27/05/2026

Về miền đất Phật Yên Tử, ghé thăm Thiền Viện Trúc Lâm

Cách đây hơn 700 năm, non thiêng Yên Tử đã ghi dấu một sự kiện lịch sử trọng đại khi Phật Hoàng Trần Nhân Tông sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, dòng Thiền của người Việt. Sau khi xuất gia tu hành một thời gian ngắn, Vua Trần Nhân Tông đã cho xây dựng chùa Lân, biến nơi đây thành viện Kỳ Lân, nơi giảng đạo, độ tăng khang trang. Đây cũng là nơi ba vị sư tổ Trúc Lâm gồm Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang thường xuyên đến thuyết pháp, giảng kinh, đưa Yên Tử trở thành kinh đô và trung tâm Phật giáo của Đại Việt.

Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử ( Ảnh St)

Chùa Lân thuộc phường Yên Tử, Quảng Ninh. Ngôi chùa tọa lạc nơi triền núi, dãy núi giống hình con Kỳ Lân nằm phủ phục, phía trước có đồi núi nhấp nhô tạo thành tiền án, phía sau lưng có núi cao sừng sững làm hậu chẩm, hai bên có dãy núi cao tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ làm nên thế tay ngai. Từ dáng núi đó mà người ta đặt tên chùa là chùa Lân.

Tên gọi của chùa còn được người dân địa phương giải thích rằng: Ngày xưa, vào mùa mưa, nước ngập trắng vùng Nam Mẫu, suối chảy mạnh, muốn vào chùa phải dùng bè mảng và căng dây cho khách bám, lân dây đi vào. Do việc lân dây vào chùa lâu dần trở thành quen mỗi khi mùa nước ngập nên người dân gọi là chùa Lân.

Chùa còn có tên chữ là Long Động Tự (chùa Động Rồng) vì liên quan đến truyền thuyết kể rằng: Trên đường vào Yên Tử, Vua Trần cùng đệ tử Bảo Sái đã nghỉ đêm tại đây. Đêm ấy, Vua mộng thấy được cưỡi trên lưng Rồng vàng bay vào trong động đẹp, có hồ nước lung linh đầy hoa sen nở, tỏa ngát hương thơm. Khi tỉnh giấc, Vua kể lại câu chuyện về giấc mộng đó cho Bảo Sái nghe và đặt tên Chùa Lân là Long Động Tự.

Trong hệ thống chùa tháp của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử thời Lý, Trần và Hậu Lê, chùa Lân giữ vị trí như một ngôi Trình ở ngay cửa ngõ vào Yên Tử. Ngõ vào chùa xưa kia rất to và đẹp, được xếp vào một trong ba cái "nhất" không thể so bì của các ngôi chùa cổ thời Trần qua câu ca dân gian: “Ngõ chùa Lân (to), sân chùa Muống (rộng), ruộng chùa Quỳnh (nhiều)”. Cùng với chùa Vân Yên (chùa Hoa Yên ngày nay), chùa Lân chính là hai trung tâm hoằng pháp lớn nhất của Tam Tổ Trúc Lâm tại Yên Tử trước khi rời về trung tâm Vân Yên, chùa Hoa Yên ngày nay. 

Trải qua thăng trầm lịch sử, các cuộc khai quật khảo cổ tại đây đã tìm thấy nhiều dấu tích nền móng cũ cùng các cổ vật gốm, đất nung từ thế kỷ 13-14. Những hiện vật có niên đại từ các thời Trần, Lê, Nguyễn này là minh chứng cho các giai đoạn phát triển của chùa. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chùa Lân được sử dụng làm căn cứ kháng chiến và bị giặc phá hủy hoàn toàn. Sau đó, nhân dân địa phương đã dựng lại một ngôi chùa nhỏ trên nền đất cũ. Đến năm 2002, Hòa thượng Thích Thanh Từ cùng Phật tử thập phương đã phát tâm công đức, đại trùng tu ngôi chùa trên nền cũ thời Trần và đặt thêm tên mới là “Thiền Viện Trúc Lâm Yên Tử”.

Hiện nay, với diện tích lên đến 23,7 ha, đây là công trình có quy mô kiến trúc khang trang và bề thế nhất trong hệ thống chùa tháp tại Yên Tử. Chùa có 3 chức năng chính: nơi nghiên cứu, bảo tồn, tàng trữ thư tịch, ấn phẩm văn hóa về Yên Tử và Phật giáo Trúc Lâm; nơi hướng dẫn tu thiền cho các tu sĩ, Phật tử theo hệ thống các thiền viện Trúc Lâm và là nơi tham quan, chiêm bái, hành hương của du khách thập phương. Toàn bộ các công trình tại đây được bài trí theo pháp Thiền Tông, các bức hoành phi câu đối đều được viết bằng chữ quốc ngữ để người dân dễ hiểu.

Các công trình kiến trúc chính của chùa vô cùng quy mô, bao gồm:

Đại Hùng Bảo Điện (Chính điện): Chính giữa thờ tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bằng đồng nặng 4 tấn trong tư thế Niêm hoa, hai bên là tượng Văn Thù Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát. Tượng Tổ Bồ Đề Đạt Ma tọa lạc phía sau Chính điện, được tạc bằng gỗ giáng hương có nguồn gốc từ Nam Mỹ, nặng khoảng 3,2 tấn với những đường nét chạm khắc vô cùng tinh tế.

Đại Hùng Bảo Điện - Chính điện( Ảnh st)

Lầu Chuông và Lầu Trống: Nằm hai bên tả hữu của Chính điện, là nơi thỉnh chuông gióng trống vào các ngày lễ và các nghi lễ hàng ngày. Ngay bên trái Chính điện còn có một nhà trưng bày đóng vai trò như một bảo tàng nhỏ, lưu giữ các hiện vật khảo cổ tại chùa cùng các ấn phẩm văn hóa, sách, ảnh về Thiền phái Trúc Lâm.

Quả cầu “Như Ý báo ân Phật Tổ”: Được đặt trang trọng phía trước Chính điện. Quả cầu làm bằng đá hoa cương đỏ nặng 6,5 tấn, đặt trên bệ đá nặng 4,5 tấn. Quả cầu có thể tự quay theo hình chữ “Vạn”, nằm gọn trong hình bát giác với 8 bồn hoa bao quanh, tượng trưng cho Bát chính đạo.

Nhà thờ Tam Tổ: Nằm phía sau Chính điện, là nơi thờ Ba vị Sư tổ Trúc Lâm. Nơi đây đang lưu giữ cuốn độc bản ‘’Thi Vân Yên Tử’’ do GS.TS Hoàng Quang Thuận cúng dường năm 2011. Cuốn sách nặng 120kg, dài 125cm, rộng 80cm, gồm 143 bài thơ bằng chữ Quốc ngữ và thư pháp Việt, được thể hiện trên 300 trang giấy. Bên phải nhà thờ Tam Tổ là một hiện tượng thiên nhiên kỳ thú đó là gốc Đa ôm gốc Thị hàng trăm năm tuổi, biểu tượng cho tinh thần đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau của dân tộc Việt.

Thiền Đường và La Hán Đường: Thiền Đường là nơi tọa thiền của tăng ni còn La Hán Đường là nơi thờ 18 vị La Hán được tạc bằng gỗ hương với đủ các dáng điệu, tư thế và lai lịch của từng vị.

Chánh Pháp Đường: Được xây dựng vào năm 2011, là nơi tổ chức thuyết pháp cho tăng ni, Phật tử. Từ vị trí này, du khách có thể phóng tầm mắt chiêm ngưỡng tượng Phật Bà Quan Âm và Hồ Tĩnh Tâm thanh tịnh.

Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử là nơi tu học của đông đảo tăng ni, Phật tử ( Ảnh st)

Ngoài ra, tại chùa Lân hiện còn lưu giữ và bảo tồn hơn 20 ngôi tháp thờ các Thiền sư từng trụ trì nơi đây qua các thời kỳ, chủ yếu là thời Lê. Trong đó, ngôi tháp lớn nhất là Tịch Quang Kim Tháp được xây dựng bằng chất liệu đá xanh vào năm 1726. Đây là nơi thờ Thiền sư Chân Nguyên, người có công lao to lớn trong việc chấn hưng Phật giáo Trúc Lâm. 

 

Tịch Quang Kim Tháp - nơi thờ Thiền sư Chân Nguyên ( ảnh TTBTDSYT)

Ngày nay, Chùa Lân - Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử đã trở thành điểm hẹn tâm linh, nơi tu học của đông đảo tăng ni, Phật tử. Đây đồng thời là điểm dừng chân không thể bỏ qua của du khách thập phương nhằm tìm hiểu về cuộc đời Phật Hoàng Trần Nhân Tông và lịch sử Thiền phái trước khi bắt đầu cuộc hành hương lên đỉnh non thiêng Yên Tử.

Nguyễn Hằng Nga